Văn học Phật giáo nguyên thủy Theràvàda: Khơi nguồn văn học Phật giáo

Thứ ba - 25/06/2019 19:37

Văn học Phật giáo nguyên thủy Theràvàda: Khơi nguồn văn học Phật giáo

Tóm Tắt: Văn học Phật giáo Nguyên Thủy Theravada dung chứa trọn vẹn lời dạy của Đức Phật Siddhattha Gotama là một trong những nền văn học cổ Ấn Độ ra đời vào thế kỉ thứ 5 trước Tây lịch, được ghi nhớ thuộc lòng và phổ biến bằng phương pháp truyền khẩu trở thành dòng văn học Phật giáo khơi nguồn tín ngưỡng tâm linh hơn 350 triệu Người thuộc các Quốc gia Đông Nam Á, ảnh hưởng đến văn hóa phương Tây về Jhana Thiền ( phương pháp tẩy rửa tâm ) cân bằng giải thoát các tình trạng của Tâm, phát triển tính bao dung Bất Bạo Động

1I.BỐI CẢNH HÌNH THÀNH:
Thái tử Sidhartha Gotama sinh khoảng 623 năm trước Tây lịch con vua Suddhodana (Tịnh Phạn) và hoàng hậu Maha Maya (Ðại tịnh diệu) dòng Koliya, học tập, trưởng thành tại Thành phố Kapilavatthu năm 16 tuổi kế thừa cai trị Vương triều Sakka (Thích ca) suốt 13 năm, nhìn thấy cảnh khổ bên ngoài cung điện Ngài quyết định trở thành du sỉ tìm kiếm con đường thoát khổ. Sau khi giác ngộ thành Phật (Sammàsambuddho) dưới cội cây Bồ đề. Đức Phật Sidhartha Gotama sang thành phố Baranasi thuyết giãng cho 05 người bạn cũ Kondanna (Kiều Trần Như) chứng đắc các bậc thánh, thành lập Cộng đồng tu sỉ Phật giáo (Tăng đoàn Sangha) khởi đầu 45 năm qua nhiều vùng miền Quốc gia phổ biến giáo Pháp-dòng văn học các bậc thánh. Ở tuổi 80 Đức Phật nhập Niết bàn vào mùa mưa an cư đầu tiên, dưới sự bảo trợ của Đức vua Ajatasattu (A xà Thế) tại thành phố Rajagaha (Vương xá) trong hang động Sattapaṇṇi (Thất Diệp) Trưởng lão Maha Kassapa (Đại Ca Diếp) chủ trì Hội nghị Trùng tụng Pháp Luật (Sangiti Dhammavinaya), đã chọn lựa 500 thánh tăng trong số 700.000 vị Kết tập các lời dạy của Đức Phật Siddattha Gotama qua 09 thể loại: Văn học(Navaṅgasatthusāsana); Kinh (Sutta); Ứng tụng (Geyya); Ký thuyết (Veyyākaraṇa); Kệ ngôn (Gāthā); Cảm hứng ngữ (Udāna); Như Thị Thuyết (Itivuttaka); Bổn sanh (Jātaka); Vị Tằng Hữu (Abbhūtadhamma); Phương Quảng (Vedalla).

*Pháp Luật (Dhammavinaya) của Đức Phật Gotama do các trưởng lão thánh tăng uyên thâm Phật Pháp trùng tụng đã định hình Văn học Phật giáo Nguyên Thủy chứa đựng Học Thuyết Trưởng Lão (Thượng Tọa Bộ Theravada) không thêm vào bớt ra một lời dạy nào dù nhỏ của Đức Phật.

Trưởng lão Thánh tăng Upali chịu trách nhiệm về Luật (Vinaya) đào tạo kế thừa chuyên trì tụng Luật chuyên giảng dạy về Luật, hình thành chú giải Luật Phật giáo. Trưởng Lão Ananda chịu trách nhiệm về Kinh, Trưởng lão Puṇṇa đứng đầu về thuyết Pháp, Kumārakassapo đứng đầu về hùng biện. Kaccāna đứng đầu về phân loại, Koṭṭhita đứng đầu về tuệ phân tích, và nhiều vị đại trưởng lão khác.

Văn học Phật giáo Nguyên Thủy (Pali Theravada) được ghi nhớ thuộc lòng, truyền khẩu, được tụng đọc mỗi ngày như một Pháp Thân Đức Phật (Dhammakaya) hiện diện thuyết pháp giác ngộ mọi người.

II. VĂN HỌC PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY THỜI ĐẠI ĐẾ ASOKA:
Triều đại vua Asoka (Adục) 304-232 Trước Tây lịch Phật giáo trở thành quốc đạo, chùa tháp được xây dựng trên 84.000 ngôi, nhiều bảo tháp thờ xá lợi Phật là hình mẫu cho các kiến trúc xây dựng chùa tháp ở các quốc gia Đông Nam Á. Văn Học Phật Giáo Nguyên Thủy thời kì này được phổ biến rộng rãi qua truyền khẩu bằng ngôn ngữ Prakit và chữ viết khắc trên chỉ dụ Đại đế Asoka đã dùng mẫu tự Brahmi cho cư dân phía nam và thủ phủ Magadhi và mẫu tự Kharosthi cho các vùng giáp tây bắc (Pakistan, Afganistan ngày nay) phổ biến lời dạy của Đức Phật trên trụ đá, phiến đá. Tinh thần bao dung Bất Bạo Động trở thành triết học tâm điểm trong nhận thức mọi người, nhiều nhà triết học, luận sư đã học tập nội dung luân lý triết học Phật Giáo từ nhiều nguồn khác nhau, giải thích, lý luận sai lầm tư tưởng Phật giáo Nguyên Thủy, quốc sư Mogalliputta Tissa đã chủ tọa Hội nghị Trùng Tụng Pháp và Luật (Dhamma Vinaya), so sánh từng câu, ý, giải thích và kết luận phần Pháp (Dhamma) ở thể loại văn học Luân Lý (Veyyakarana) được phân chia thành một phần riêng có tên Abhidhamma (A Tỳ Đàm), hệ thống Tam tạng (Tipitaka) thành hình. Văn học Phật giáo Nguyên Thủy thời kỳ này được phổ biến bằng truyền khẩu, chữ viết trên đá. Quốc sư Mogalliputta Tissa đã cử 09 phái đoàn hoằng pháp đến các vùng trong và ngoài Ấn độ một trong chín (09) phái đoàn đã đến Tích Lan do Đại sư Mahinda (con vua Asoka xuất gia đi tu) hướng dẫn, mang hệ thống Tam Tạng vừa được trùng tụng tại thành phố Pataliputta (Hoa Thị Thành) đến Tích Lan, đặt nền tảng phát triển truyền thống văn học Phật giáo Nguyên Thủy Theravada tại đây và phát triển toàn thế giới sau này. Một đoàn khác do 02 Đại sư Sona và Uttara hoằng pháp đến vùng Suvanna Bhumi (Đất Vàng) bao gồm các quốc gia Đông Nam Á ngày nay.

I.3. Từ Thế kỉ thứ V đến thế kỉ thứ I trước tây lịch: Văn học Phật Giáo Nguyên Thủy Theravada dùng phương pháp truyền thống: truyền khẩu, ghi nhớ thuộc lòng, tụng đọc hàng ngày để phổ biến và bảo vệ học thuyết Phật giáo Nguyên thủy. Triều đại vua Vattagamini 104 -74 ( Tích Lan, Sri Lanka) cuộc chiến tranh giành quyền lực ngai vàng, cướp bóc nghèo đói, đã đẩy dân chúng thường xuyên di chuyển nơi sinh sống, ảnh hưởng đến số lượng tu sĩ đọc tụng thuộc lòng Tam tạng. Văn học Phật Giáo Nguyên Thủy Theravada từ truyền khẩu thuộc lòng giai đoạn này chuyển sang viết chữ trên đá, lá buông, kim loại vàng bạc...

II. NGÔN NGỮ THUYẾT GIẢNG PHÁP CỦA ĐỨC PHẬT:
Ngôn ngữ Đức Phật thuyết giảng Pháp là ngôn ngữ truyền thống của dòng Thích ca (cha), dòng Koliya (mẹ), ngôn ngữ giai cấp Vua chúa (Khattiya) trước đây của Ngài và ngôn ngữ phổ thông đương thời. Đức Phật đã từ chối đề nghị của hai anh em Tỳ kheo Yamelu và Tekula có biệt tài ngôn ngữ xin chuyển ngữ Pháp của Phật qua ngôn ngữ thi ca Sankrit; Đức Phật cho phép các Tỳ kheo học tập giáo Pháp bằng phương ngữ của mình. Luận sư Budhaghosa (TK IV BC) đã cho rằng chữ Saka nirutti (phương ngữ) ở đây là ngôn ngữ Magadha (Ma kiệt đà) lúc đó. Thời đại của Đức Phật có trên 16 quốc gia và các bộ tộc đã tạo nên truyền thống văn hóa mạnh mẽ của Ấn độ. Quốc gia Magadha dưới quyền cai trị của vua Tần bà sa la (Bimbisara 543-491 BC) có vị trí địa chính trị quan trọng toàn vùng đồng bằng sông Hằng (Ganga), đất đai rộng lớn, nông nghiệp phát triển, sản vật dồi dào, giao thông bằng đường sông, đường bộ thuận lợi kết nối với các Quốc gia lân cận, nhiều nhà mua bán đã đến Magadha trao đỗi hàng hóa ngôn ngữ Maghadha dùng thỏa thuận mua bán, trao đỗi thông tin về hàng hóa, văn hóa xã hội trong giai cấp thương buôn thuộc các quốc gia đồng bằng sông Hằng.

Ngôn ngữ Magadha không phải là ngôn ngữ Sankrit của giai cấp Bà La Môn, do đặc tính của Ngôn ngữ Sankit dung chứa Thi ca, học thuật, nghi lễ cúng bái Phạm thiên các vị Thánh thần, có thể là ngôn ngữ thế tục pha trộn với Sanskrit (hydrid sanskrit) khả năng ngôn ngữ Magadha hình thành từ tầng lớp Vua chúa (Khattiya) pha trộn với phương ngữ địa phương phục vụ lợi ích cho số đông trở thành ngôn ngữ văn học có năng lực dung chứa các nền văn hóa đa dạng. Ngôn ngữ Magadha hoặc ngôn ngữ Kosala là ngôn ngữ tiền thân của Pali hay chính là ngôn ngữ Pali đã trở thành nguồn cảm hứng của nhiều Nhà nghiên cứu sau này như Ngài Budhaghosa TK IV. Rhys Davids , Oldenberg, Geiger TK 19, 20 v.v...
*Luận sư Budhaghosa TK IV đã dùng ngôn ngữ Pali ghi chép toàn bộ dòng Văn Học Phật Giáo Nguyên Thủy Theravada trên lá bối hay còn gọi là Tam Tạng Pali( Tipitaka)()

III. VĂN HỌC PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY ( PALI THERAVADA):
Văn học Phật giáo Nguyên thủy (Pali Theravada) được chép trên lá bối hiện lưu truyền ở Srilanka (Tích Lan); Burma (Miến Điện); Campuchia; Laos; India (Ấn độ) một số vùng giáo Pakistan; Afganistan; Việt Nam trong 03 giỏ chứa (Tam Tạng) là :

A Tạng Kinh ( sutta pitaka)
B. Tạng Luật (Vinaya pitaka)
C. Tạng A Tỳ Đàm ( Abhidhamma Pitaka)

Tam Tạng được chuyển tải bằng 09 thể loại văn học là :
III.1. Kinh (Sutta) thể loại văn xuôi, có nội dung phân tích (Vibhaṅga) và giải thích (Niddesa). Phổ biến trong Tạng Luật và Tạng Kinh như Trường bộ kinh (Dìgha Nikaya), Tương ưng kinh (Samyutta Nikaya), Đại phẩm Luật (Mahavagga), Tiểu Phẩm Luật (Culla vagga)
III.2 Ứng Tụng (Geyya) có hai thể loại văn xuôi và văn vần (kệ ngôn); hay là những bài giảng có kệ ngôn (Sagāthā) tìm thấy nhiều trong Tạng kinh và tạng Luật
III.3 Ký Thuyết (Veyyākaraṇa ) thể loại văn xuôi có nội dung hệ thống luận lý, triết học ( bao gồm các thành tố của Tâm, sở hửu tâm, qui trình của Tâm (qui trình của Vật chất cơ bản) được tìm thấy trong Kinh Tạng và A Tỳ Đàm Tạng rất ít trong Luật ( Vinaya).
III.4 Kệ Ngôn (Gāthā) thể loại văn vần: như tập Trưởng lão Tăng kệ (Theragāthā), Trưởng lão Ni kệ (Therīgāthā), Pháp cú (Dhammapada), và một số kệ ngôn trong kinh tập (Suttanipāta) là thể loại văn học xuất hiện trong giai cấp Tu sĩ Bà la môn dùng kệ ngôn để chuyển hóa tư tưởng, sáng tác tu chứng .
III.5. Cảm Hứng Ngữ (Udāna) ) gồm 82 bài kệ mà Đức Phật tự thốt lên, không do ai cầu thỉnh thuyết pháp.Thể loại văn học Thi kệ này phổ biến trong đời sống cư dân giai cấp Bà la môn, giai cấp Chiến sĩ, giai cấp Thương buôn, giai cấp công nông dân phục vụ
III.6. Như Thị Thuyết (Itivuttaka) gồm 110 bài pháp được mở đầu và kết luận với câu: "Vuttaṃ h'etaṃ bhagavatā (Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến)" thể loại văn học này được tìm thấy trong Tiểu bộ kinh.
III.7 Bổn Sanh (Jātaka) gồm 550 câu chuyện liên quan đến Đức Phật và các nhân vật liên quan. Thể loại văn học “Bổn sanh” kết nối các sự kiện, nhân vật, hoàn cảnh từ quá khứ đến hiện tại để nhận diện các vấn đề về nhân quả báo ứng, tình trạng duyên nghiệp.nhân vật trong sự kiện.
III.8 Vị Tằng Hữu (Abbhūtadhamma) ) có nghĩa là những điều lạ lùng, kỳ diệu khó xảy ra. Thể loại văn học này chuyển tải các nội dung đặc biệt như nói đến bốn pháp kỳ diệu hy hửu của vua Chuyển Luân Vương, bốn pháp kỳ diệu của Tôn giả Ānanda...
III.9. Phương Quảng (Vedalla) thể loại văn học chuyển tải các nội dung hỏi đáp, dẫn chứng đưa đến thể nghiệm nhận thức chân lý như: kinh Cūlavedalla (Tiểu Kinh Phương Quảng), Mahāvedalla (Ðại kinh Phương Quảng) Sammādiṭṭhi (Kinh Chánh Tri Kiến), Sakkapañhā ( Đế Thích Sở Vấn Kinh).

Văn Học Phật Giáo Nguyên Thủy ( Pali Theravada) cũng được tìm thấy trong các bản kinh như Mi Tiên vấn đáp ( Milanda Panha) giải thích, trình bày qua thi ca, sử thi như Mahavamsa (Đại sử của Tích Lan), Dipavamsa (Đảo sử) và các bản giải thích ý nghỉa các bài kinh qua một số bộ sách được dịch sáng tác bởi nhiều vị Luận sư như Ngài Budhaghosa; Ngài Dhammapala có 76 tập.

*Các tác phẩm Chú giải đã có trong thời kì Đức Phật, sau khi Đức Phật Nhập Niết bàn những bản chú giải này được các Trưởng Lão Phật Giáo truyền dạy cho các đệ tử truyền thừa. Các bộ sớ giải được viết trước và sau Tây lịch khá nhiều.

*Văn Học Phật Giáo Nguyên Thủy Pali Theravada đã du nhập vào Việt Nam vào thế kỉ thứ 1 tây lịch hậu duệ phái đoàn của Đại sư Sona và Uttara có thể đã đến Funam , Champa và Trung Tâm Phật Giáo Luy Lâu Việt Nam (), tác phẩm Giải Thoát Đạo Luận (Vimutti magga) bản kinh An Ban Thủ Ý, từ Duyên , từ Nghiệp đã xuất hiện trong dòng văn học Phật giáo Việt Nam.

IV. TRIẾT HỌC TRONG VĂN HỌC PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY.
Tính triết học trong văn Học Phật Giáo Nguyên Thủy dựa trên qui luật :

Do cái này có mặt nên cái kia có mặt.
Do cái này không có mặt nên cái kia không có mặt.
Do cái này sinh nên cái kia sinh.
Do cái này diệt nên cái kia diệt.

Mọi thứ đủ điều kiện (duyên) sinh ra không đủ điều kiện không sinh ra nên "Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được pháp; ai thấy được pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi". Quí giá như “Chánh pháp còn phải bỏ đi, huống nữa là phi pháp". Mắt tai mũi lưỡi thân ý của tôi của người, bên trong bên ngoài đều trong tình trạng thay đổi mang đến khổ… không cố chấp, mọi thứ không phải của Ta "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi" cần phải như thật quán với chánh trí tuệ.

IV. VĂN HỌC PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY(PALI THERAVADA) VIỆT NAM:
Văn Học Phật Giáo Nguyên Thủy thuộc truyền thống Thượng Tọa Bộ (Theravada) chứa đựng bên trong nhiều khó tàng Pháp bảo, trãi qua vài thiên niên kỉ vẫn còn mang tính kì bí hấp dẫn, phần nội dung chất đầy những thông tin say mê các nhà nghiên cứu, phần kỉ năng giúp Con Người tiếp cận được những phương pháp văn minh cách đây vài ngàn năm. Nhiều tác phẩm bằng ngôn ngữ Pali trong Chú giải, sớ giải, phụ sớ giải của các Luận sư, các Cao Tăng đã dành cả đời nghiên cứu thực hành tu chứng viết tặng lại cho đời sau. Trên 76 đầu sách Chú Giải, Sớ Giải, và Phụ Sớ Giải khoảng 10 đầu sách được dịch bằng các ngôn ngữ thứ hai như tiếng Anh, Tiếng Thái, Tiếng Miến Điện. Số ít khác được dịch trực tiếp từ ngôn ngữ Pali. Nhu cầu dịch từ nguyên bản Pali Văn học Phật Giáo Nguyên thủy sang ngôn ngữ thuần Việt, đọc dể hiểu rất lớn trong giới nghiên cứu Phật học, nhu cầu thành lập nhóm nghiên cứu hiểu biết Pali, dịch thuật Pali, lớp nghiên cứu dịch thuật Pali hiện nay là cánh cửa mở đang chờ đợi đáp ứng. Tạng Kinh (HT. Thích Minh Châu), Tạng luật (TT Chánh Thân) đã xong, Tạng Abhidhamma (A tỳ Đàm ) trước đây do Tổ sư Tịnh Sự phiên dịch từ Thái ngữ, đến nay nhu cầu dịch song ngữ Pali Việt để hoàn chỉnh Tạng A Tỳ Đàm rất cần công việc cuối cùng này

V. Kết Luận:
Văn Học Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam liên hệ các quốc gia Phật giáo Đông Nam Á, trở thành nguồn cảm hứng trong văn học Việt Nam và điểm tựa tâm linh cho nhiều triệu cư dân Việt Nam

 

TT. Ts Giác Trí
Phó Trưởng Ban Trị sự đặc trách Nam Tông
Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây