Ngài Hiệu Trưởng và Phước đức xây chùa

Thứ sáu - 24/01/2020 17:54

Ngài Hiệu Trưởng và Phước đức xây chùa

Khi người dân Việt Nam ý thức rằng: “Mái chùa che chở hồn dân tộc/ nếp sống muôn đời của tổ tông”, thì mái chùa đã không còn mang ý nghĩa là nơi ở dành riêng cho những người xuất gia tu học nữa rồi. Mái chùa là nếp sống ngàn đời của tổ tiên, mà nếp sống là cách nghĩ, cách làm, cách tư duy... hằng ngày đã thuần thục, thường xuyên và đã ăn sâu thành nếp rồi.

Cho nên, mấy ngàn năm qua, cây đa, bến nước, chùa làng là cấu trúc quần thể làng xã của người dân Việt Nam ở trên mọi miền đất nước. Nếp sống ấy đã in sâu trong tâm thức người dân Việt nên dù đi bất cứ nơi đâu, dù từ bỏ quê hương ra đi trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta vẫn mang theo hình bóng của quê nhà, của ngôi chùa làng mái ngói cong cong, Dẫu biết rằng vào thời kỳ đầu của Tăng đoàn, Đức Phật cùng với các Thánh đệ tử đi khắp nơi để hoằng truyền chính pháp, chỗ ở của quý Ngài là dưới gốc cây, trong khu rừng, nơi miếu hoang, nhà trống… và không ở vào một chỗ nào nhất định, mà khi nơi này, khi nơi khác. Bởi chính bi nguyện độ tha mà quý Ngài không dừng bước chân du hóa, đem chính pháp truyền bá khắp nơi nơi, làm lợi ích cho trời và người. Nhưng đó là đối với người đã giác ngộ, còn đối với người chưa giác ngộ, nếu không ở yên một chỗ để hạ thủ công phu mà cứ nay đây mai đó thì khó mà thực tập được thiền định. Cho nên, Đức Phật thường khuyên các tì-kheo mới xuất gia phải y chỉ vào một khu rừng nào đó thuận tiện để nỗ lực công phu cho đến khi giác ngộ mới lên đường hoằng pháp. Về sau, nơi nào có nhiều tì-kheo tập trung tu học được gọi là Tăng-già-lam (saṃghārāma), tức khu vực cư trú của chư Tăng, còn gọi Tăng viện, Chúng viên, Tinh xá, Đại tòng lâm...

Khách quan mà nói thì ngôi Tăng-già-lam đầu tiên được xây dựng là do ý tưởng và ước muốn của cư sĩ Cấp Cô Độc (Anāthapindika). Ông cũng như mọi người Phật tử khác ý thức rằng, chỉ có sự gần gũi chư Tăng và thường xuyên đến chùa lễ Phật, nghe pháp mới có thể gội rửa những tập khí phiền não, nuôi dưỡng bồ-đề tâm và tu bồi phước đức. Cho nên, tốt hơn hết là phải kiến tạo đạo tràng để cung thỉnh chư Tăng trú trì.

Cấp Cô Độc là cái tên mà dân chúng đã đặt cho ông, bởi ông là người có tấm lòng thương xót và thường giúp đỡ những người nghèo khổ, cô độc, không nơi nương tựa. Sau khi quy Tam Bảo, ông muốn tìm một miếng đất thích hợp để xây dựng Tinh xá cúng dường Đức Thế Tôn và chúng Tăng. Cư sĩ Cấp Cô Độc tìm được một miếng đất rất đẹp nằm ở phía nam thành Xá-vệ (Śrāvastī), thuộc quyền sở hữu của thái tử Kỳ-đà (Jeta), và ông đã mua miếng đất này với trị giá bằng số vàng trải khắp mặt đất khu vườn ấy. Thái tử Kỳ-đà ngạc nhiên khi thấy một người bỏ ra chừng ấy tài sản để cúng dường, nên đã hỏi nguyên do thì được biết Cấp Cô Độc muốn xây Tinh xá cúng dường Phật, từ đó thái tử cũng phát khởi tín tâm và cúng toàn bộ số cây trong khu rừng của mình cho Đức Phật. Chính vì vậy mà về sau, khi Tinh xá được xây dựng xong nó mang tên của cả hai người là Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên (Jetavanānāthapiṇḍadasyārāma). Đó là ngôi chùa đầu tiên của Phật giáo.

Có được khu vườn, Cấp Cô Độc đã thỉnh ý Đức Thế Tôn về đồ án xây dựng. Đức Phật đã giao việc này cho ngài Xá-lợi-phất (Śāriputra). Căn cứ luật Thập tụng (Sarvastivāda-vinaya) và nhiều kinh luật khác mà đặc biệt là di tích khảo cổ hiện tại cho thấy, Tinh xá được xây dựng rất quy mô, làm thành một quần thể bao gồm điện Phật, giảng đường, thiền đường, tăng phòng, nhà bếp, nhà ăn, nhà vệ sinh, hồ tắm, lối đi kinh hành… Đây là một trong những ngôi Tinh xá lớn nhất thời Phật còn tại thế. Đức Thế Tôn phần lớn cư ngụ nơi Tinh xá này và phần lớn kinh điển cũng được Phật thuyết tại đây.

Ngoài Tinh xá Kỳ viên, còn có Tinh xá Trúc Lâm (Veṇuvana-vihāra) do vua Tần-bà- sa-la (Bimbisāra) kiến tạo cúng dường, cũng là một ngôi chùa lớn và hình thành sớm nhất trong lịch sử phát triển chùa viện Phật giáo. Căn cứ Luật tạng Pāli, cuốn Mahavagga ghi chép, Đức Phật cho phép các tì-kheo được nhận Tinh xá (vihāra), hang động (guhā), phòng xá (pariveṇna), nhà kho (koṭṭhaka), nhà ăn (upṭṭhāna-sālā), nhà bếp (aggisālā), nhà vệ sinh (vacca-kuṭī), chỗ kinh hành (caṇkama), vườn rừng (ārāma)… do Phật tử hiến cúng để sử dụng cho mục đích làm nơi sinh hoạt và tu học. Cho nên, ngoài những ngôi chùa lớn là trung tâm tu học của đại chúng, khắp nơi trên lãnh thẤ ổn Độ rộng lớn thuở xưa, ở đâu có hình bóng chư Tăng đến hoằng pháp là ở đó Phật tử phát tâm xây dựng chùa tháp để cung thỉnh chư Tăng cư trú, với mong ước được thân cận, gần gũi quý thầy để được học hỏi, nghe pháp và tu tập theo con đường giải thoát giác ngộ.

Kinh Trường bộ (Dīgha-nikāya), kinh Đại Bát Niết bàn Mahāparinibbānasutta, cho biết trong các việc làm tu tạo phước điền thì dựng tháp và lập Tinh xá là có phước đức lớn nhất:
Dựng tháp, lập tinh xá,
Cúng vườn cây mát mẻ;
Cầu thuyền để đưa người;
Và cho cả nhà, gác;
Đồng trống cho nước cỏ,
Phước ấy ngày đêm tăng;
Người đủ giới thanh tịnh,
Ắt sẽ đến chỗ lành.
Kinh Tăng nhất A-hàm (Ekottarikāgama) cho biết, sở dĩ đấng Phạm thiên (Brahmadeva) có phước báo rộng lớn vô lượng là bởi ông ta đã từng làm bốn việc: xây dựng chùa tháp, tu sửa chùa cũ, tạo sự hòa hợp Thánh chúng và khi chư Phật ra đời thì thỉnh chuyển pháp luân. Như vậy, xây dựng hay tu sửa chùa tháp đã được Đức Phật khẳng định là một trong những việc làm đem lại phước báo to lớn mà một người Phật tử tại gia có thể tu tập được. Phước ấy ngày đêm luôn tăng trưởng, bởi nơi một ngôi chùa có chư Tăng cư trú ngày đêm tu tập giới định tuệ, làm chỗ nương tựa đạo đức tâm linh cho mọi người; bởi ở đó hội đủ ba ngôi báu Phật, Pháp, Tăng cho chúng sinh nương tựa; bởi ở đó thập phương Phật tử đều có thể đến chiêm bái, lễ lạy và tu học. Cho nên, ngôi chùa là trung tâm tu học phát triển tâm linh, nuôi dưỡng đạo đức giải thoát, là nơi cho mọi người hướng đến đời sống cao thượng. Vì vậy mà công đức xây dựng hay tu sửa chùa tháp là vô lượng vô biên và ngày đêm luôn tăng trưởng.
Trong ý nghĩa đó, nhìn về Vạn Phật Quang Đại Tòng Lâm chúng ta mới thật sự cảm phục phước đức to lớn của Hòa thượng Hiệu trưởng, người đã dành hơn một phần tư thế kỷ để kiến thiết, xây dựng Trung tâm văn hóa Phật giáo tầm cỡ quốc gia này!

2Thật vậy, Đại Tòng Lâm vốn do cố Hòa thượng Thích Thiện Hòa, từ chùa Ấn Quang đến khai sơn vào năm 1957 với mục đích xây dựng nơi đây thành một Đại Tòng Lâm có quy mô lớn, tiến đến mở Phật học viện, quy tụ tăng ni khắp nơi về tu học, đào tạo lực lượng kế thừa thực hiện sự nghiệp hoằng pháp độ sinh. Sau khi ngài viên tịch (1978), ý nguyện này vẫn được các vị trú trì kế tục thực hiện. Tuy nhiên, mãi đến năm 1990, khi Hòa thượng Hiệu trưởng phát tâm đứng ra gánh vác Phật sự trọng đại này thì Đại Tòng Lâm mới trở thành Phật học viện đào tào Tăng Ni và từng bước kiến thiết xây dựng.
Từ đó đến nay, đã 30 năm trôi qua, Đại Tòng Lâm không ngừng đổi thay, hưng thịnh. Hàng ngàn Tăng Ni được đạo tào tốt nghiệp ra trường với trình độ Trung cấp và Cao đẳng Phật học. Hàng loạt công trình kiến trúc được xếp hạng kỷ lục quốc gia. Nhưng hơn hết và trên hết ấy là pháp môn tu học, nhất hướng chuyên niệm Di-đà do chính Hòa thượng Hiệu trưởng chủ trương và hướng dẫn.
Có thể nói, đào tạo Tăng Ni hay xây dựng chùa tháp, mà mỗi việc ấy, ở Đại Tòng Lâm đều đạt kỷ lục, nhưng với Hòa thượng Hiệu trưởng, đó chỉ là phương tiện, là cách để kiếm phước mà thôi. Còn mục đích cứu cánh, tối hậu của đời người xuất gia tu học, điều mà chúng tôi thường được Ngài sách tấn, ân cần dạy dỗ, là đạt được giác ngộ, giải thoát, là liễu sanh thoát tử, mà cụ thể là ngay trong đời này phải quyết định được ‘thượng phẩm thượng sanh’, để ‘hoa khai kiến Phật’. Chí nguyện ấy được Ngài thực hành một cách miên mật trong mọi sinh hoạt hằng ngày. Với ngài Hiệu trưởng, cuốc đất, trồng rau, lau nhà, nhổ cỏ, tưới cây, xây chùa… đều là diệu dụng; và đều là công phu tu tập gắn liền với Hồng danh Đức từ phụ A-di-đà. Cho nên, đến hôm nay, khi đã quá ‘cái tuổi xưa nay hiếm’, chúng tôi vẫn thấy Ngài Hiệu trưởng miệt mài với công phu, chưa từng gián đoạn.

Kinh Tăng nhất A-hàm, phẩm 43, kể rằng, vào đời quá khứ có vị vua tên Bảo Nhạc, dùng pháp để cai trị và hóa độ dân chúng, thống lãnh toàn cõi Diêm-phù-đề này. Bấy giờ, có đức Phật hiệu là Bảo Tạng, là Như Lai, bậc Chí Chân, Ðẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn xuất hiện ở thế gian. Nhà vua có một công chúa tên là Mâu-ni, nhờ đời trước cúng dường chư Phật nên có dung mạo đặc biệt thù thắng, sắc mặt đẹp tựa hoa đào.
Lúc ấy, đức Phật Bảo Tạng cũng có ba hội chúng Thanh văn. Hội đầu tiên có một ức sáu vạn tám ngàn chúng, hội thứ hai có một ức sáu vạn chúng, hội thứ ba có một ức ba vạn chúng, đều là bậc A-la-hán, hết sạch mọi phiền não.
Bấy giờ, đức Phật Bảo Tạng thuyết pháp cho các đệ tử như vầy: ‘Này các tỳ-kheo! Nên nhớ hành thiền, chớ có biếng nhác, lại phải tìm cầu phương tiện trì tụng kinh điển, giữ gìn giới pháp.’
Lúc đó, thị giả của đức Phật ấy tên là Mãn Nguyện, bậc nhất về nghe nhiều cũng giống như tỳ-kheo A-nan của Ta trong hiện tại, cũng là vị nghe nhiều bậc nhất.
Khi ấy, tỳ-kheo Mãn Nguyện thưa đức Phật Bảo Tạng: ‘Bạch Thế Tôn! Đối với những tỳ-kheo các căn không nhạy bén, không siêng năng tu tập thiền định, cũng chẳng tụng kinh, tu tập, thì Thế Tôn sẽ xếp những vị ấy vào nhóm nào?’
Ðức Phật Bảo Tạng dạy rằng: ‘Những tỳ-kheo nào các căn không nhạy bén, không thể nào thực hành pháp tu thiền định thì nên tu tập theo ba pháp hành của bậc Thượng nhân. Thế nào là ba? Đó là tọa thiền, tụng kinh và nỗ lực làm các việc phước lành.’
Xét nghĩ, hành trạng cuộc đời Hòa thượng Hiệu trưởng thật tương ưng với những lời kinh trên. Ngài không những thành tựu một pháp, mà cả ba pháp của bậc Thượng nhân, Ngài đều thành tựu! Ngài không chỉ tham thiền niệm Phật, không chỉ tụng kinh trì chú, không chỉ nỗ lực làm các việc phước lành mà còn xây chùa, xây nhiều chùa, xây cả bệnh viện, mở trường đào tạo Tăng ni… tạo điều kiện nhân duyên cho không biết bao nhiêu tín đồ quy hướng tu thiện. Thật vĩ đại biết bao!
Thích Nguyên Hùng
(Trung cấp khóa III)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây