Đại hội Phật giáo tỉnh:Tham luận của Ban văn hoá

Thứ hai - 22/05/2017 05:02

Đại hội Phật giáo tỉnh:Tham luận của Ban văn hoá

ĐẠI HỘI PHẬT GIÁO
ẢNH HƯỞNG ĐẾN TĂNG ĐOÀN THẾ GIỚI

Thượng tọa Giác Trí
Phó Trưởng Ban Trị sự GHPGVN tỉnh BR-VT
 
Tóm tắt: Ấn-độ một trong bốn nền văn minh cổ xưa của thế giới dung chứa bên trong nhiều tư tưởng tôn giáo: Bà-la-môn giáo, sau này là Ấn giáo; Kỳ Na giáo; Phật giáo đã cùng nhau khai hóa tư tưởng phát triển văn minh các tầng lớp xã hội Ấn-độ thời cổ đại. Đặc biệt, đức Phật Gotama nhận thức về nghiệp giai và cấp xã hội, về tinh thần bất bạo động (ahimsa); về bản chất tạm bợ của đời sống (vô thường), thành lập Tăng đoàn Phật giáo (Sangha) theo tinh thần bình đẳng, tu tập và thực hành đời sống phạm hạnh không giai cấp. Tăng đoàn Phật giáo một tập thể sống yêu thương, gắn kết tạo ổn định bền vững, là chuẩn mực của đạo đức xã hội đã ảnh hưởng đến nếp nghĩ, cách làm hơn 500 triệu cư dân trên thế giới.
1. Khái lược bối cảnh xã hội Phật giáo Ấn-độ
Ấn-độ cổ đại bao la rộng lớn ba mặt tiếp giáp biển, hướng Tây bắc là những con đường lưu thông với các nước; phía Bắc là dãy núi tuyết Hi mã lạp sơn (Himalaya); nước tan từ tuyết, phun từ mạch ngầm, hợp dòng chảy hình thành hai con sông: sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Ganga) tạo nên phù sa bồi lắp, nông nghiệp phát triển. Các tuyến đường mua bán mang lại nhiều lợi ích kinh tế, kết nối nhiều quốc gia bộ tộc giàu mạnh về thương mại và văn hóa đã sản sinh nền văn minh lưu vực sông Indus (2500 đến 1900 trước Công nguyên (TCN)) vang bóng một thời. Dân cư trên địa bàn thuộc chủng tộc Dravidian, chủng tộc Aryan nhập cư (1600-100 TCN), chủ yếu sống ở miền Bắc Ấn đồng bằng sông Hằng. Ngoài ra còn có một số chủng tộc nhập cư khác, cùng chung sống lâu đời, pha trộn các dòng máu tạo nên xã hội Ấn-độ với nhiều ngôn ngữ, tập quán, văn hóa xã hội và tín ngưỡng tôn giáo.(1)
Có thể nói Ấn-độ là nôi sinh của các tín ngưỡng tôn giáo. Đầu tiên tín ngưỡng Phệ-đà (Rig veda) có mặt khoảng TCN. Từ sự phụng thờ các vị thần trong trời đất qua những bài cầu nguyện của tộc người Ấn nhập cư, dần dần trở thành những bản kinh tụng Phệ-đà, bao gồm các cách thức cúng tế: rượu, thịt, bơ, sữa dâng đến thần linh bằng cách đốt trên giàn hỏa. Đến cuối thời kỳ Phệ-đà do kinh tế vùng, miền chênh lệch làm thay đổi Ấn-độ, từ xã hội nguyên thủy chuyển sang chế độ vương triều, bộ tộc xây dựng 16 quốc gia Mahajanapada, xã hội được phân thành bốn đẳng cấp, các giá trị văn hóa, tư tưởng triết học phát triển mạnh mẽ, nhận thức của con người sâu hơn, cao hơn; tôn giáo chủ đạo cũng được chuyển từ tín ngưỡng Phệ đà thành đạo Bà-la-môn (vào khoảng 1000-100 TCN).
Bà-la-môn tôn sùng Phạm thiên (Brahma); thần Hủy diệt (Shiva); thần Bảo hộ (Visnu); thầy Tế hay còn gọi là nhà tư tưởng, nhà bác học am hiểu nhiều lãnh vực. Trên căn bản của kinh điển Phệ-đà Bà-la-môn giáo giải thích thành 4 bộ: Rig Veda: Thi tụng Phệ-đà; Yajur Veda: Nghi thức tế tự; Sama Veda: Ca vịnh thần chú; Atharva Veda: Giải thích ý nghĩa kinh Phệ-đà. Ngoài ra còn học hỏi các bộ như: Áo nghĩa thư (Upanisad), Trường ca Maha Ramayana, Sử thi Maha Bharata. Bà-la-môn giáo phát triển quan niệm giai cấp xã hội và giới tính theo tư tưởng luật Ma-nu.
Luật Manu có 2685 điều chia ra 12 chương, luật Manu chủ trương rằng giai cấp Bà -la-môn và giai cấp vua chúa thuộc thượng tầng xã hội, được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi, tất cả các giai cấp khác phải cung kính, tôn sùng. (2)
Trong thời kỳ Bà-la-môn giáo tư tưởng triết học chủ yếu bao gồm ba dòng chính:
1) Phạm ngã đồng nhất. Linh hồn cá nhân, hay tiểu ngã Atman đồng nhất với linh hồn vũ trụ, hay đại ngã Brahman;
2) Samsara: luân hồi. Linh hồn bị giam hãm trong chu kỳ tử sinh đầy khổ não và
bất tận;
3) Moksa: giải thoát linh hồn thoát khỏi cõi trần tục bằng ý thức đồng nhất với đại vũ trụ mới chấm dứt khổ não. (3)
Các trường phái  chủ yếu gồm sáu trường phái triết học: Sankhya (Số luận), Yoga (Du già), Vaisesika (Thắng luận), Nyaya (Chánh lý), Mimansa (Di-man-tát) và Vedanta (Phệ-đàn-đà) được xem thuộc hệ chính thống của đạo Bàla-môn. Các học thuyết này được phổ biến rộng rãi, là tư tưởng chủ đạo trong tất cả các vương quốc cổ ở Ấn-độ cho đến lúc đức Phật Gotama xuất hiện. (4)
2. Tăng đoàn dạo Phật ra đời
Thái tử Sĩ-đạt-ta (Sidhartha Gotama) sinh khoảng năm 623 TCN, con vua Suddhodana (Tịnh Phạn) và hoàng hậu Maha Maya (Ðại Tịnh Diệu) dòng Koliya, kế thừa cai trị vương triều Sakka (Thích Ca). Nhìn thấy cảnh khổ bên ngoài cung điện, Sidhartha Gotama quyết định trở thành du sĩ tìm kiếm con đường thoát khổ. Sau khi giác ngộ thành Phật, đầu tiên đức Phật Gotama thuyết giảng phương pháp thực hành giải thoát cho năm người bạn cũ Kiều Trần Như và nhiều nhóm đạo sĩ khác, sáu mươi vị đệ tử thành tựu đạo quả A-la-hán. Khoảng 9 tháng sau vào ngày rằm tháng Giêng, 1250 vị thánh Tăng hoằng pháp các nơi cùng hội tụ về khu vườn Trúc lễ bái đức Phật, cũng trong dịp này đức Phật công nhận hai vị: Tôn giả Xá Lợi Phất là đệ nhất thinh văn thông tuệ; Tôn giả Mục Kiền Liên là đệ nhất thinh văn về thần thông lãnh đạoTăng đoàn.
Tăng đoàn đầu tiên của đức Phật được thành lập trên nguyên tắc tu hành giải thoát (Ovadapatimokkha) qua bài kệ:
Không làm mọi điều ác
Thành tựu các hạnh lành
Giữ tâm ý trong sạch
Chính lời chư Phật dạy. (PC. 183)
3. Sinh hoạt của Tăng đoàn Phật giáo
Tăng đoàn Phật giáo dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đức Phật, tiếp nhận thành viên trên nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt giai cấp. Đức Phật với tâm từ và trí tuệ rộng lớn quán chiếu thấy chúng sanh tánh giác ngộ bình đẳng, chính vì vậy tuyên bố khi xuất gia trong Phật giáo, giai cấp, danh vọng, địa vị đều phải từ bỏ để tu hành, giống như nước của những con sông lớn khi chảy vào biển chỉ còn vị mặn, sống trong Tăng đoàn thực hành giáo pháp của đức Phật chỉ có một vị, đó là vị giải thoát (Xem chú thích 1). Thời khóa mỗi ngày của Tăng đoàn ngoài thời gian nghỉ đêm, dùng thực phẩm một lần duy nhất trước 11 giờ trưa, tất cả thời gian còn lại đều dành thời gian cho việc hành thiền nghe pháp và hoằng pháp. Nội dung sinh hoạt trong Tăng đoàn được quy ước trên 3 nguyên tắc :
1) Giới: giữ 4 loại giới luật là: Thu thúc lục căn; Nuôi mạng chơn chánh; Quán tưởng thanh tịnh; Biệt biệt giải thoát. Về Luật biết cách làm lễ Sám hối, dung hòa, nhẫn nại không phỉ báng hại người.
2) Định: thực hành 40 đề mục thiền định, 4 pháp thiền quán, làm cho tâm trong sạch phát triển.
3) Tuệ: cắt đứt các pháp lậu hoặc: tham, tà kiến, ngã mạn, vô minh.
Tu tập Giới Định Tuệ là phương pháp đặc thù hiệu quả tạo ra các bậc thánh Tu-đà-hườn, Tu-đà-hàm; A-na-hàm; A-la-hán trong Phật giáo.
Phương pháp này không hề được tìm thấy trong các lời dạy của đạo Bàla-môn hay lục sư ngoại đạo cùng thời.
4. Hệ thống tổ chức Tăng đoàn Phật giáo
Trong thời đại của đức Phật, tổ chức lãnh đạo Tăng đoàn dựa vào sự xác nhận của đức Phật, những vị có khả năng thuyết giảng giúp cho người nghe giác ngộ thánh quả, đều có trí tuệ năng lực lãnh đạo Tăng đoàn.
Xá Lợi Phất với năng lực thông tuệ được đức Phật chỉ định là “Sứ giả Như Lai” đại diện đức Phật thuyết giảng, hướng dẫn các phương pháp đoạn diệt phiền não đến thất chúng đệ tử, Tôn giả Xá Lợi Phất thuyết giảng khoảng 2.000 pháp môn trong hệ thống 84.000 Pháp môn của đức Phật. Ngoài ra, Tôn giả còn làm Hòa thượng đàn đầu cho nhiều đàn truyền giới cho Tăng Ni.
Tôn giả Mục Kiền Liên với năng lực thần thông biết được nhiều chuyện đang xảy ra sẽ xảy ra ở cõi trời, cõi người, vì thế trong những buổi giảng pháp Ngài thường nhắc lại các bài pháp của đức Phật và dẫn chứng những câu chuyện về cõi ngạ quỉ, cõi trời như là phương pháp nhân quả để người nghe tu hành tinh tấn vượt qua những trở ngại trong tâm. Đức Phật đã nhiều lần khen ngợi: “Này chư Tỳ-kheo! hãy học hỏi và tu tập cùng Sàriputta và Mahà Moggallàna vì hai sa môn này có đầy đủ giác ngộ và tinh thần hỗ trợ cho đồng đạo trong đời sống thánh thiện!
Sàrìputta có thể ví như người mẹ, và Mahà Moggallàna ví như bà vú. Sàrìputta đủ khả năng hướng dẫn phàm Tăng đến thánh quả nhập lưu và Mahà Moggallàna sẽ đưa họ đến cứu cánh giải thoát!”. (5)
Trong 25 năm cuối đời của đức Phật, tôn giả Ananda được chọn đi theo chăm sóc hầu cận, mỗi khi đức Phật thuyết giảng cho mọi người Ananda điều ghi nhớ thuộc lòng. Ananda còn là người phát ngôn, thông báo các Phật sự, Tăng sự đến Tăng đoàn và Phật tử mỗi ngày, tiếp đón sắp xếp nhiều phái đoàn đến thăm và học đạo, ngài là một vị thị giả thông tuệ và hòa nhã: “Này chư Tỳ kheo! Ananda chính là người đang tiến lên những trình độ Phật Pháp cao hơn. Và ngoài ông ra, khó mà tìm được một sa môn có nhiều trí nhớ như vậy”. (6)
Tỳ kheo ni đệ tử Phật xuất hiện trong Tăng đoàn Phật giáo cũng trong khoảng thời gian này. Lúc đức Phật ở Trùng các giảng đường (Kùtagara) gần Đại lâm (Mahavana) Ananda đã xin đức Phật cho Mahapaja Gotami xuất gia, duyên đã đủ đức Phật cho phép bà cùng 500 phụ nữ quyến thuộc dòng Thích-ca thọ giới Tỳ kheo Ni bằng “Bát kỉnh pháp”. (7)
Tỳ kheo ni gia nhập Tăng đoàn trở thành hàng tứ chúng. (tỳ-kheo; tỳ-kheo ni; thiện nam; tín nữ) vai trò của Ni giới càng ngày càng mở rộng. Thánh ni Gotami trở thành người mẹ đỡ đầu hướng dẫn nhiều nữ giới tu hành giải thoát được khổ.
Sau khi đức Phật nhập niết bàn trưởng lão đại Ca Diếp (Maha Kassapa) được tôn xưng là người đại diện để nắm giữ chánh pháp, đức Phật đã từng công nhận khen ngợi “bậc thượng thủ thinh văn, có bảy tướng tốt trong số ba mươi hai tướng tốt của bậc vĩ nhân, là vị sa môn duy nhất trao đổi y phục với Như Lai. Ðại Ca Diếp đã tròn đủ mười đức hạnh đáng cho người khác tin kính”. (8)
Từ những phẩm cách và tài năng đặc biệt của các bậc đệ nhất Tăng Ni, đức Phật đã xác nhận vai trò lãnh đạo tăng đoàn như sau:
• Xá Lợi Phất là Như Lai sứ giả; tướng quân chánh pháp.
• Mục Kiền Liên: đệ nhất thần thông.
• Ananda: đệ nhất đa văn “thủ khố pháp bảo”.
• Đại Ca Diếp: đệ nhất tu ở rừng (đầu đà), thượng thủ thinh văn.
• Puna Mantaniputta: đệ nhất về thuyết giảng” v.v.
Ngoài ra còn 70 trưởng lão thánh Tăng Ni khác, cùng lãnh đạo hội chúng Tăng Ni hoạt động ở các trung tâm hoằng pháp trên sáu thành phố lớn như : Ba La Nại (Baranasi); Campa; Vương Xá Thành (Rajagaha); Quảng Nghiêm (Vesali); Xá vệ (Savatthi); Kiêu Thưởng Di (Kosambi)9.
5. Đại hội Phật giáo
5.1 Đại hội kết tập giáo điển Phật giáo lần thứ nhất
Đại hội kết tập giáo điển Phật giáo lần thứ nhất hay đại hội Phật giáo lần thứ nhất xảy ra vào năm 543 TCN. Sau khi đức Phật nhập niết bàn tại thị trấn Câu-thi-na (Kusinara), tám vương quốc, bộ tộc gửi phái đoàn sứ giả đến tranh giành xá lợi của đức Phật, cảm xúc thiếu vắng đức Phật bộc lộ ở Tăng đoàn và hàng tứ chúng, tu sĩ già Subhadda cải đạo gia nhập Tăng đoàn chưa được bao lâu, chưa thấm nhuần giáo pháp đã tỏ ra lười biếng tu tập, có những lời nói không tôn trọng pháp Phật, trưởng lão Đại Ca Diếp trình bày với Tăng đoàn thực trạng đang xảy ra và đề xuất các giải pháp phát triển Phật giáo. Sau cùng trưởng lão Đại Ca Diếp đích thân mang phần xá lợi Phật đến vương quốc của vua A Xà Thế (Ajatasattu), vương quốc Ma-kiệt-đà, đề nghị đức vua A Xà Thế bảo trợ Đại hội Phật giáo tại thành phố Vương xá (Rajagaha).
Thời gian Đại hội kiết tập này kéo dài đến 7 tháng, bắt đầu từ mùa An cư tháng 6 năm 543 TCN, tại thạch động Thất Diệp (Sattapanna), trên núi Vebhàra ở nội thành Vương xá (Rajagaha), gồm 500 vị thánh Tăng A-la-hán.
Trong lần đại hội này, trưởng lão Ca Diếp được đại chúng cử làm người lãnh đạo giáo hội tối cao, xem như Tăng thống đầu tiên của Giáo hội, làm chủ tọa điều hành toàn bộ đại hội. Dưới hình thức vấn đáp đại hội đã kết tập lại tạng Luật và tạng Pháp của đức Phật, trưởng lão Upali thuyết lại tạng Luật đầy đủ không thêm, không bớt; trưởng lão A Nậu Đà La (Anuruddha), Ananda trùng tuyên về Pháp. Pháp bảo được kết tập thành chín thể loại: Kinh (Sutta), Ứng tụng (Geyya), Ký thuyết (Veyyākaraṇa), Kệ ngôn (Gāthā), Cảm hứng ngữ (Udāna), Như thị thuyết (Itivuttaka), Bổn sanh (Jātaka), Vị tằng hữu (Abbhūtadhamma), Phương quảng (Vedalla) (10), chín loại Pháp bảo này được xem như chín thể tài văn học Phật giáo, chuyển tải toàn bộ lời dạy của đức Phật Gotama và cũng là sự khởi nguồn cho các dòng văn học Phật giáo sau này.
Pháp và Luật của đức Phật được bảo vệ bằng phương pháp truyền thừa thuộc lòng, đọc tụng mỗi ngày giống như lúc đức Phật còn tại thế, đại chúng cùng nhau đọc tụng, truyền lại cho các hạ thế mai sau.
5.2 Đại hội kết tập giáo điển Phật giáo lần thứ hai
Đại hội lần thứ hai diễn ra tại tu viện Vālika thuộc thành phố Tỳ-xá-ly (Vesali), dưới sự bảo trợ của đức Vua Kalasoka vào năm 443 TCN (sau đức Phật diệt độ khoảng 100 năm). Lí do đại hội từ sự phát hiện của trưởng lão Yassa tăng ni Bạt Kỳ đã thực hành sai giới luật của đức Phật. Sau đại hội Phật giáo lần thứ nhất Pháp và Luật của đức Phật được truyền thừa phát triển mạnh mẽ quanh các quốc gia thuộc đồng bằng sông Hằng, hình ảnh Tăng đoàn hoằng Pháp giữa các vùng miền vương quốc rất thuận lợi. Lần nọ trưởng lão Yassa từ thành phố Kiêu Thưởng Di đến Tỳ-xá-ly (Vesali) hoằng pháp, nhận thấy nhóm tăng ni Bạt-kỳ (Vajjiputta) sống truyền đạo có 10 (mười) điều (11) trái với pháp luật Phật giáo, nặng nề nhất là nhận cúng dường vàng bạc từ các Phật tử. Ngài khuyến cáo việc làm đó không đúng giới luật của đức Phật, nhóm tăng ni Bạt Kỳ dựa vào số đông cho rằng đó là truyền thống văn hóa phong tục của Tăng Ni Phật tử nơi đây.
 
Trưởng lão Yassa đã đi nhiều nơi thông báo đến các trưởng lão Tăng Ni hành đạo ở hướng Đông và hướng Tây biết về 10 điều phi pháp, luật nhóm tăng ni Bạt-kỳ (Vajjputta) thuộc quốc gia Tỳ-xá-ly. Sau 8 tháng, dưới sự chủ trì của tám vị trưởng lão đại biểu Phật giáo, 4 vị phía Tây là: Vevata, Sambhuta Sanavasi, Yasa (Da-sá) và Sumana, đại biểu Phật giáo phía Đông gồm có 4 vị là: Sabbakami, Salha, Khujjasobhita và Sasabhamika, mười vấn đề này đã được đại hội xác định không đúng pháp, không đúng luật, không đúng lời dạy của bậc Đạo sư (12).
5.3 Đại hội Phật giáo lần thứ ba
Đại hội lần thứ ba này phải dùng cả Tăng lệnh và Vương lệnh, diễn ra vào năm 218 Phật lịch tại chùa Vô Ưu (Asokarama), thành phố Hoa Thị (Pataliputta), vương quốc Ma Kiệt Đà (Magadha), dưới sự bảo trợ của vua Asoka. Đại hội do trưởng lão Moggalliputta Tissa (Mục-liên-đế-tu) và một số trưởng lão khác làm chủ tọa, kéo dài chín tháng để chỉnh đốn về những giới luật của đức Phật.
Hoàng đế Asoka lên ngôi năm 273 TCN cai trị vương quốc Magadha (Ma Kiệt Đà) lấy đạo Phật làm quốc đạo, đồng thời cũng tôn trọng tạo điều kiện cho tất cả tôn giáo tín ngưỡng khác hoạt động trong vương quốc. Hoàng đế Asoka qui y với trưởng lão Mogalliputta Tissa và theo các trưởng lão hành hương bốn Phật tích. Chư Tăng được tôn trọng cúng dường các tiện ích trong đời sống để hành đạo, nhiều tu sĩ ngoại đạo thấy Phật giáo được tôn trọng nên cải đạo theo đạo Phật rất nhiều, không ít trong số đó chưa thông hiểu cơ bản về pháp luật của đức Phật dẫn đến tình trạng nhận thức lời Phật dạy theo “cái tôi” nhiều hơn là theo lời Phật dạy, gây tranh cãi bất hòa mất đoàn kết trong Tăng đoàn không tin tưởng nhau. Mặt khác, chư Tăng bảy năm không họp mặt làm lễ Bố Tát (Uposattha), hoàng đế Asoka cử một đại thần đến nhắc nhở nhưng chư Tăng vẫn không thực hành lễ Bố tát tụng giới với lý do không làm lễ Bố tát chung với ngoại đạo trà trộn vào Phật giáo, quan đại thần tức giận, ra lệnh sát hại nhiều trưởng lão Phật giáo. Vua nghe tin, rất hoang mang lo sợ cho rằng mình đã tạo ác nghiệp đối với chư Tăng nên hỏi các cao tăng trưởng lão và được giải thích theo mỗi cách khác nhau không thỏa mãn, đức Vua gặp trưởng lão thánh tăng Moggalliputta-Tissa được giải thích: “Đức Phật dạy: nghiệp là sự cố ý, chỉ có cố ý mới tạo nghiệp” nếu ngài không cố ý ra lệnh thì không có quả báo ác và ngược lại. Lời khuyên của trưởng lão làm cho vua Asoka bớt lo âu về luật nhân quả. Nhân cơ hội này, trưởng lão giải thích cho vua hiểu thế nào là phi pháp và luật, thế nào là đúng pháp luật Phật giáo. Tại sao các trưởng lão không làm lễ Bố tát chung với các tu sĩ giả danh Phật giáo. Các vị này cải đạo theo Phật giáo, thành lập bộ phái mới cải biên giới luật và đưa vào nhiều tri kiến khác biệt với đạo Phật. Ðức vua Asoka rất hoan hỷ về lời dạy của Trưởng lão hứa hỗ trợ để chỉnh đốn hàng ngũ Tăng già.
Các trưởng lão thánh Tăng được ủng hộ của đức vua Asoka, bắt đầu thanh lọc hàng ngũ Tăng già. Tu sĩ nào không vượt qua được kỳ trắc nghiệm pháp và luật Phật giáo thì bị trục xuất ra khỏi giáo hội. Có khoảng 60.000 tu sĩ giả danh bị trục xuất ra khỏi tăng đoàn trở lại đời sống thế tục.
Những học thuyết phi chính thống không phải của Phật giáo từ các bộ phái được loại bỏ. Trưởng lão Moggalliputta Tissa đã trình bày luận thuyết Ngữ tông (Kathàvatthu) dưới dạng câu hỏi đáp, giải đáp các phần lý luận đúng và không đúng với giáo thuyết Phật giáo. Chia phần Pháp (Dhamma) làm hai phần đưa vào trong ba giỏ chứa gọi là Tam tạng (Tipitaka) gồm: Luật Tạng, Kinh Tạng và A Tỳ Đàm Tạng (13).
Đại hội Phật giáo lần thứ ba tại thành Hoa Thị, đã kết tập toàn bộ hệ thống giáo Pháp của đức Phật Gotama trong bối cảnh nhiều bộ phái Phật giáo phi chính thống, truyền bá những điều sai lạc, tạo ra những lý luận thường kiến, tà kiến. Trưởng lão Mục Liên Đế Tu đã thỉnh cử chín phái đoàn mang giáo pháp của đức Phật truyền bá vùng biên thùy và nước ngoài.
6. Kết Luận
Từ Thánh hội Tăng già thời đức Phật đến ba kỳ Đại hội Phật giáo tại Ấn-độ, Tăng đoàn đã lớn mạnh, thể hiện ý chí đoàn kết hoằng pháp, hoàn chỉnh dòng văn học của các bậc thánh, lan truyền đến các quốc gia, trở thành điểm tựa tâm linh hơn 500 triệu cư dân trên thế giới, pháp và luật của Phật giáo tạo nguồn cảm hứng cho Quốc hội các quốc gia xây dựng Hiến pháp, Luật pháp. Giáo lý Nghiệp, Nhân duyên, Vô thường của đạo Phật trở thành văn hóa nhận thức “nếp nghĩ cách làm” của người dân Việt Nam.
 
1+ 4. https://vi.wikipedia.org/wiki/Lịch_sử_thế_giới
2. http://www.bachkhoatrithuc.vn/encyclopedia/
164-123-633386830048437500/Nhung-Bo-Luat-co-noi-tieng-the-gioi/Luat-
Manu. htm
3. Thích Minh Châu, Kinh Trường bộ, tập 1, Kinh Sa môn quả
5. Samyutta Nikàya: kinh Tương ưng 47, 14 27 Majjhima Nikàya: kinh Trung bộ,
số 141.
6. Anguttara nikaya - kinh Tăng chi, số 3. 47.
7. Cùlavagga 10, Tiểu phẩm, số 10.
8. Majjhima Nikàya - kinh Trung bộ, số 108.
9. http: //www. budsas. org/uni/u-kinh-truongbo/truong18. htm.
10. http://www. budsas. org/uni/u-luat-tieupham/tp-11. htm. phần [614].
http: //budsas. org/uni/u-diva/ diva-2. Kinh Trung bộ, kinh Ví dụ con rắn.
11. Mười điều phi pháp được chép:
(1) Diêm tịnh (Singilona kappa): dự trữ muối ăn để dùng khi cần, như vậy là trái
với giới điều không cho phép dự trữ thực phẩm.
(2) Chỉ tịnh (Dvangula kappa): dùng thực phẩm sau giữa trưa.
(3) Tụ lạc gian tịnh (Gamantara kappa): đi tới vùng lân cận dùng bữa trưa thứ hai
cùng ngày, như vậy là phạm lỗi ăn phi thời.
(4) Trụ xứ tịnh (Avasa kappa): làm lễ Bố tát (Uposatha) vào ngày mùng một và ngày rằm, tại các nơi khác nhau trong cùng một trụ xứ, đây là điều cấm trong Mahavagga, tức là Ðại phẩm trong Luật tạng.
(5) Tùy ý tịnh (Anumati kappa): khi tăng chúng đã quyết định nơi nghị xứ (nơi hội nghị), thì mặc dù không có tất cả cùng tham dự, nhưng để quyết định có hiệu lực, yêu cầu tăng chúng sau khi quyết định đã đưa ra thì mọi người đều tuân phục là được.
(6) Cửu trụ tịnh (Acinna kappa): thuận theo những điều đã được quyết định trước đó.
(7) Sinh hoà hợp tịnh (Amathita kappa): dùng sữa lỏng sau bữa ăn.
(8) Thủy tịnh (Jalogim patum): uống nước cây cọ lên men nhưng chưa thành rượu mạnh.
(9) Bất ích lũ ni sư đàn tịnh (Adasakam Nisidanam): khi may tọa cụ không được
phép thêm biên, không được muốn to nhỏ tùy ý.
(10) Kim tiền tịnh (Jatarupajatam): nhận vàng và bạc.
12.  https://thuvienhoasen.org/p18a24607/12-chuong-lien-quan-bay-tram-visattasatikkhandhaka
13. https://nghiencuulichsu. com/2012/09/25/cac-trieu-dai-chinh-trong-lichsu-
an-do/

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây